TÓM LƯỢC TIỂU SỬ VỀ CÔNG TRÌNH HÀNH ĐẠO
TRÃI DÀI HƠN 31 NĂM KHỔ HẠNH  CỦA ĐẠI ĐỨC BỮU AN THIÊN
DO ÔNG BẮC THIÊN SƯ ĐỌC TẠI BỮU ĐIỆN
TÒA THÁNH ĐINH TƯỜNG

                                   Ngày 24 tháng 7 năm Bính Thân (1956) 

Kính chào quí quan khách, quí Ông Bà,
Quí Đại diện các Chi Phái. Anh Chị Em Thiện Tín.
Thưa quí Ngài,

             Trong giờ phút nghiêm trọng nầy, chúng tôi Ngũ hành Thiên sư tòa thay mặt Hội Thánh và toàn thể Đạo Phái Chơn Lý Mỹ Tho, trân trọng cúi đầu cảm ơn tất cả quí Ngài có lòng chiếu cố, tưởng nhớ đến Ông Nguyễn Văn Ca, một Đấng giáo chủ trọn lành của chúng tôi: Thánh danh Đại Đức Bữu An Thiên, Chưởng Quản Cữu Trùng Đài của Hội Thánh Cao Đài Chơn Lý.

             Ngài là một vị có đầy đủ Đạo, Tài, Đức, Tâm  cũng là một vị có chí Đại hùng Đại lực đã vượt qua bao  phen nguy hiểm, khó khăn trong thời kỳ Đức Chí Tôn Khai hóa Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ tại Miền Nam đất Việt.

             Từ Tây Ninh trãi qua Kiên giang (Rạch giá) đem lại Định Tường (Mỹ Tho) trong ba kỳ chuyển Đạo nầy, đã biết bao lần Ngài phải gánh chiu vô vàn gian nan mới gầy dựng được nền Chơn Lý để lại cho thế hệ sau, cho nhơn loại chung hưởng thái bình Nghiêu thiên, Thuấn nhựt.

            Chúng tôi xin mạng phép sơ dẫn Tiểu sử và biểu dương công đức của Ngài trong buổi sanh tiền đến ngày qui liễu.

             Ngài sanh năm 1875, hưởng thọ 81 tuổi. Nhập môn vào Đạo tại nhà Ông TƯ HUỲNH ở Cần Thơ. Khoảng thời gian 1926 – 1927  Ngài tham gia vào Ban Cai Quản TÂY NINH làm  Khâm Thiên Thủ bổn đến 1929, vì thấy quí Ngài cao cấp ở Tây Ninh hành Đạo không vưng theo Thánh Ý, nên Ngài tách khỏi chỗ nầy phải nhằm khi cơ đạo chuyển về Cao Thiên Đàn (Rạch giá) năm 1929. Ngài hợp tác với Cơ bút Hậu giang chấn chỉnh và giữ gìn mối đạo Trời tại đó. Theo lời Đức Chí Tôn đã phán như sau:

                                          “… Thương các trẻ Thầy day cán bút
                                                Cao Thiên Đàn gạn đục lóng trong
                                                            Khuyên con bỏ tánh cuồng ngông
                                    Giàu lòng Bác ái, mạnh lòng Từ bi
                                                            Đường ngay con cứ con đi,
                                    Rán tìm đến chỗ Thầy qui mà vào…”

           Đây là bằng cớ Thánh giáo chỉ về cơ Đạo chuyển. Kịp đến năm 1931 Ngài vưng Thiên mạng đứng ra Minh Chơn Lý, mong cho quí vị ở Tây Ninh hồi tâm trở về nguồn cội, nhưng quí vị ở Tây Ninh không cãi hóa. Thầy đã phán rằng :

                                       “… CA lãnh chỉ giải Minh Chơn Lý
                                                                 ……..

           Bước sang năm Nhâm Thân (1932), Đức Chí Tôn phải lập Tòa Thánh Trung Ương, Đức Chí Tôn phong cho Ngài chức Thái Đầu Sư và chức Chưởng Quản Cữu Trùng Đài. Qua lời Đức Chí Tôn dạy như sau :

                             “… CA trách nhậm công dày, sức nhọc,
                                    Dám liều minh xông đục đạn tên,
                                                Công phu con thật rất bền
                        Gánh lời nặng nhẹ, chẳng rên, chẳng phiền.
                                                Công con Thầy có chép biên,
                        Thánh Thần, Tiên Phật cũng biên rõ ràng,
                                    Công Con đó bảng vàng ghi tạc
                                    Thầy đã sai Bạch hạt xướng tên
                                                Đầu Sư phái Thái công đền,
                        Vai làm Anh Cả đứng trên Trùng Đài
                                                Làm sao cho rõ chí trai
                        Thay Thầy hành Đạo rõ tài Hậu giang…”

          Nhờ lòng vô Tà, vô Tư, chí chơn, chí Chánh; Trên bước đường hành đạo, đứng ra Minh Chơn Lý, xuyên suốt Tam tiểu Thời kỳ, biệt phân Tà, Chánh rõ ràng. Ngài đã cầm ngọn đuốc Thiêng liêng dìu dẫn nhơn sanh khỏi mưu Tà, chước quỉ y như lời dạy của Đức Chí Tôn đã giao phó cho Ngài:

                        “… Xuống trần thế phải ra công nhọc,
                                    Lãnh riêng phần săn sóc chúng sanh.
                                                Lãnh phần chấp chưởng quyền hoành
                        Cầm cân phạt dữ, thưởng lành thế Ta
                                                Cầm quyền Chơn Lý giái ba
                        Chí Chơn, Chí Chánh, Vô Tà, Vô Tư…”

          Nhờ tài đức nầy, trên tuân Luật Trời, dưới kiêng phép nước, biết thương yêu đàn em dại, nên Đức Chí Tôn cho Ngài được chứng quả Phật An Thiên La-hán năm 1931. (Lễ Kỷ niệm 17 – 18 tháng 6 hàng năm).

            Bước sang năm Quí Dậu (1933), Đức Chí Tôn giáng dạy bằng bài “Tam Kỳ Thánh Huấn” tại Cao Thiên Đàn để làm kỷ niệm ngày Lễ An Thiên.

             Đức Chí Tôn đã chỉ dạy: Trong Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ nầy có cuộc An Thiên là lớn hơn hết, vì có Bữu An Thiên ra đời, cầm vững an bền mối Chơn Lý, nếu ai không tin khó về tới Đạo.

             Nay Đức Chí Tôn đem Ngài qui Thiên đây, đúng với lời tiên tri đã định trước :

                                          “…Mười năm Đinh Hợi – Mậu Dần,
                                    Bước qua Mậu Tý chớ lần lựa lâu
                                                Rõ Trời quyền Một, Lý thâu
                                    Mười năm vững đặt, vậy đâu cũng vầy…”

           Bởi Đức Phật Hàng Long Chơn Tánh đứng ra lãnh Lịnh Đức Chí Tôn trong thời gian hạn định 10 năm, từ Mậu Dần đến Đinh Hợi, thành lập Chơn truyền, bước qua Mậu Tý giao lại cho Đức Bửu An Thiên, nối qua bước đường Thượng Cổ, mười năm đó gọi là “nối Tiểu thời kỳ”. Vì lẽ đó, trong bài Cây Cổ Thọ, Đức Chí Tôn đã dạy :

                                           “…Một cây Cổ thọ giữa Trời
                                    Gió giông cam chịu, ích người, lợi Ta.
                                                Tàng xanh, lá mát dìm dà
                                    Đến khô, đến rụng, cũng là giúp chung
                                                Phận tu Đại lực, Đại hùng.
                                    Thì cây cổ thọ hết lòng vì đâu ?
                                                Khắp trong mấy quả Địa cầu
                                    Tại đây nhờ đặng Đạo Mầu cứu nguy.
                                                Mười năm nối Tiểu thời kỳ,
                                    Một cây cổ thọ đồng qui cho nhằm.
                                                Chớ rằng Đạo chuyển nhiều năm
                                    Ngồi không chờ đợi, lạc lầm không hay…”

           Cây Cổ thọ nầy tức là Đại Đức Bửu An Thiên, chiếu theo Lý Vô Vi giao chuyển nửa năm Đinh Hợi tới Bính Thân, đây là 9 năm rưởi, nên Đức Chí Tôn đem Ngài về Ngôi vị, ngự tại Ngọc Tòa Linh Tiêu y như lời Đức Chí Tôn đã định trước, đó là phận Ngài đã đặng công viên quả mãng rõ ràng :

                                      “…Nếu ai công quả với Thầy
                                    Mãn kỳ trách nhậm là ngày siêu thăng…”

           Và đúng với câu :

                                      “…Lập xong danh phận Tam Tài
                                    Trở về hớn hở lâu dài Ngọc Kinh …”

           Như thế, ngày nầy thật là ngày vô cùng vinh hạnh, vui mừng của toàn thể nhơn sanh đã có một vị Đại Đức, một vị hướng đạo siêu phàm nhập Thánh, trong xứ sở của Con Hồng, Cháu Lạc.

            Tuy nhiên, với phần xác thit thì tử biệt, sinh ly, ngàn thu vắng bặt; Với công ơn dìu dắt, dạy dỗ thì sao cho khỏi cảnh ngùi ngùi thương tiếc.

           Thưa quí Anh Chị Em,

            Chúng ta hãy cố xóa bỏ cái thường tình tục lệ ấy, hầu tập trung lo an táng phần xác cho viên mãng. Ta hãy cố ráng đè nén nỗi lòng mến yêu, thương tiếc đễ thay vào đó là tập trung nổ lực nối chí theo Ngài, một Người Thầy giáo sáng suốt, một Đấng trọn Lành. Ta hãy thu góp tất cả tinh thần toàn thể, cầm chắc bực trung, lo xây dựng nền Đại Đạo Tam Kỳ Phổ Độ mà Đức Chí Tôn đã trao; Đó là một phần hương hỏa rất lớn lao, vô cùng, vô tận của Đàn Anh Hiền để lại cho ta, thử thách lòng ta đó. Vậy chúng ta hãy ân cần, sốt sắng, cương quyết thêm lên, ấy là Ta biết trả ơn cho Trời, biết trả nghĩa cùng Đấng Anh Hiền của ta vậy.

             Chớ chúng ta chỉ biết nói mến yêu, thương tiếc suông mà không quyết tâm tiếp nối Chơn truyền của Ngài thì sự mến yêu thương tiếc đó chỉ là lời nói đầu môi, chót lưỡi.

            Trước khi dứt lời, Ngũ hành Thiên sư Tòa chúng tôi, đồng cúi đầu kêu gọi tất dạ chí thành của Anh Chị Em hãy cùng nhau xiết chặt tinh thần, ráng chung lo vun bồi nền Chơn Lý là Đạo quí của Thầy cho được sung nhành, tươi hoa. Được như thế, chúng ta mới thật sự là đền ơn đáp nghĩa Đại Đức Bửu An Thiên trong muôn một vậy.

          Hãy nhớ lời Thầy :

                                          “…Từ đây nối bước theo Thầy
                                    Vẻ vui sắc đẹp, nở mày phận con,
                                                Trước sau, Đạo nghĩa cho tròn
                                    Vững phong thuần tục, chẳng còn muội mê.
                                                Mặc dầu thương ghét mến chê
                                    Đó là miệng lưỡi đừng nê chấp người
                                                Biết thân sanh đứng giữa Trời
                                    Thì lo cho trọn Đạo – Đời từ đây…”
                                                                           Nay kinh,
                                                               NGŨ HÀNH THIÊN SƯ
 

—————————d&c—————————

             Phụ chú 1 :

            Nghĩ vì Thầy có dạy :

                               “…Còn phần của Bửu An Thiên
                        Thì lo sắp đặt lãnh riêng phần Đời
                                    Đặng qui hiệp các nơi một chỗ
                        Lo học hành mới rõ Đạo Trời…”

           Xem bài:
            - Tăng Thọ,  tiếp bút ngày 24 tháng 4 Annam 1938 (trong ĐCL 50/44)
          -  Ngu Đường trị dân, tiếp bút ngày 3 tháng 6 Annam 1938,  (trong ĐCL 50/50).
          - Cây Cổ thọ, (in trong Thiên Đạo Chơn Truyền Quyển III trang 69)

           Chiếu theo mấy đoạn Thánh ngôn trên đây thì Đại Đức Bửu An Thiên phải còn làm phận sư thêm, kể từ năm Mậu Tý (1948), lúc Đức Tam Tôn qui Thiên. Ngặt nhứt là Ông Quyền Chưởng Quản Cửu Trùng Đài Nguyễn Văn Năm, Thầy chọn vào năm 1945 mà bỏ trôi phận sự và làm ố lem Chơn lý, mượn danh đạo tạo danh mình, nên phận sự Bửu An Thiên phải thế Thiên hành hóa trong 10 năm Thượng cổ, y như đoạn thi Thầy cho sau đây :

                              …Mười năm nối Tiểu thời kỳ
                        Một cây Cổ Thọ đồng qui cho nhằm
                                    Chớ rằng Đạo chuyển nhiều năm
                        Ngồi không chờ đợi lạc lầm không hay …”

           Chiếu theo bài Thầy dạy ngày 25 tháng 9 annam 1948, Thầy có dạy Đại Đức Tam Tôn và Ông Quyền CQ. Cửu Trùng đài Nguyễn Văn Năm:

                                 “…Còn nơi Tòa Thánh Định Tường
                        Nhờ hai trẻ liệu lo lường với CA….”

           Thì Tòa Thánh Định Tường bị chữ TIÊU, hỏa hoạn mấy lần, nay phải lo tái tạo là do phận sự của ĐĐ Bửu An Thiên, đó là Thánh ý định, nên kể từ năm 1951 qui đạo về Điều hòa, rồi lần lần dời và tái tạo Tòa Thánh Định Tường trên sở đất thổ cư của Ngài đã hiến trọn cho Đạo.

          Hồi mới qui Đạo về Điều hòa, không có một chiếc đủa ăn, không có một manh chiếu nằm nghĩ. Thế mà trãi 5 năm qua nhờ sức hiệp trợ của toàn Đạo thương Thầy mến đạo, muốn gầy dựng chỗ nơi thờ phượng Đức Chí Tôn cho xứng đáng để lập công bồi đức và biểu dương lòng hiếu đạo đối với Cha Trời hơn 30 năm khổ hạnh tại cảnh Trời Nam đất Việt :

                             “…Trãi qua Nhứt, Nhị, Tam kỳ
                        Lập thành Thượng cổ cũng vì sự thương…”

           Nên toàn Đạo, do theo Đại Đức Bửu An Thiên đã tái tạo Tam cảnh Đài Linh đầy đủ, mặc dù đơn giản nhưng có đủ chỗ để nhơn sanh sùng bái.

              Kịp đến năm 1955 Đại Đức Bửu An Thiên dạy tái tạo Châu Thiên đài. Với thời cuộc vừa tạm yên, sanh hoạt ngày càng cao giá, phần thì tài chánh có hạn, thế mà một lời phán ra của Đại Đức là bao nhiêu lòng hy sinh như nhiều hạt cát đấp dồn, tạo thành được hoàn toàn vẹn vẻ cảnh Châu Thiên Đài là Bạch NGọc Kinh tại thế, Khánh thành kịp ngày 14 -15 tháng 4 (Long Hoa) 1956 là đúng theo Thánh ý định.

 “Ngày nầy Đại hội Long hoa. Châu Thiên thành lập Thánh Tòa vẻ vang. Châu Thiên nay đã khánh thành. Nam bang hưỡng đặng phước lành vui thay….”

           Có một vị là bạn tri âm của Đại Đức, đi dự lễ Khánh thành Châu Thiên đài, đã nói rằng : “Đại Đức làm xong Châu Thiên Đài có lẽ là Ngài rồi phận sự”.

             Lời nói mập mờ, mà khiến nên là lời Chư Thần ứng tâm vị ấy cho biết trước; Còn phần của Đại Đức, Ngài cũng đã hiểu nhiều rồi, nên Ngài đã sắp xếp cuộc qui Thiên và di ngôn giao mối giềng Chơn lý cho Tam Thanh Đầu Sư chấp chưởng y theo Thánh Ý :

                                     “…Các con muốn trọn chung, trọn thủy
                                          Ba Đầu sư lo chỉ dắt dìu…”

           Từ những ngày Ngài yếu sức, không khi nào lúc trở mình mà quên niệm danh hiệu Thầy cho tới lúc trút hơi thở cuối cùng.

            Xét mấy đoạn trên đây Hội Thánh Chơn Lý Định Tường rất hân hoan cho Ngài đã xong phận sự trở về Ngọc Tòa Linh tiêu y như bài “Tăng thọ 2 năm

           Phụ chú 2 :

           Sơ lược tinh thần về cuộc tống táng nghĩ vì theo Chơn Lý, Thầy có dạy: Việc chi cũng phải xét hữu lý mà thi hành, nên Thầy có cho mấy quyển Luật Bình Quân để giải mê phá tục, mở mang cho đời tránh khỏi những điều cám dỗ của Tà quái, nên tử là táng.

             Đối với Đại Đức Bửu An Thiên, một vị Giáo chủ của Đạo trong thời kỳ Thượng cổ, một vị quan cực phẩm đối với Đời đã về hưu. Trong thân quyến phần nhiều đều là phẩm trí thức, thì một đám tang ít nữa phải tổ chức hết sức long trọng mới phải; nhưng xét nghĩ vì chúng ta đã cầm ngọn đuốc Chơn lý, nêu cao nguồn Chơn lý và đối với 2 người con ruột của Ngài đều là Chức sắc của Đạo nên cũng hành y khuôn mẫu của Đạo, không điều chi ngoài Chơn lý.

             Với một sự tín ngưỡng thâm trầm về Đạo lý, một tin tưởng chắc chắn nơi Đại Đức Bửu An Thiên đã hoàn toàn Thiên mạng trở về hớn hở lâu dài nơi chốn Bạch Ngọc mà bao nhiêu Đạo các nơi tựu về đông đủ đối với phần xác thịt làm sao không khỏi bùi ngùi,  hằng tưởng niệm Chơn Linh Đấng Cứu thế được về lại Bạch Ngọc Kinh và tin tưởng Ngài sẽ hội hiệp cùng Thầy, cùng các Đấng Thiêng liêng để ban bố điển ân cho chúng ta được hưởng nhờ mà lo hành đạo cho vẹn toàn chung thủy. Nên từ đầu chí cuối, việc tống táng, các lễ cầu nguyện đều do một trật tự chung là lặng im làm gốc; Tưởng niệm một vị La-hán trở về cùng Thầy là điều tối trọng, cho đến lễ phát hành và đưa Linh cữu về phần mộ đều ở trong một bầu không khí êm hòa, mềm dịu, trật tự  trang nghiêm vì đi đưa cũng không đọc kinh chi hết, đó là hành theo Chơn Lý là vậy đó, vì Thầy có dạy “Sống lo cho trọn, buổi cùng là siêu…”./-

—————————d&c—————————

Các tin liên quan khác