Lịch dương

15
Lịch âm

5

 - Năm 1928 : Nhập môn ở Thánh thất Mỹ tho (Cầu Vĩ) lúc đó còn tạm ở tư gia Đại đức Bữu An Thiên


          - 15-1âl-1934 : Ngọc Lễ sanh.

          - 21-12 âl- 1936: Giáo hữu, vào Ban Hoằng pháp Hiệp Thiên Đài.

          - 24-12 âl- 1937: Giáo sư.

 

          Thời gian nầy, Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài, Anh lớn Nguyễn Hữu Phùng (Sáu Phùng), lạm quyền, ỷ mình cầm mối điển, làm sai Thập ngũ qui điều của Hiệp Thiên Đài, nên Đức Chí Tôn cho Phật Tổ Già Lam thâu lại điển Ông Phùng và cầu viện Đức Hàng Long Chơn Tánh xuống phàm, nhập vào thân xác Ông Lê Văn Được để cho ra Thánh ngôn, kinh sách tiếp :


              . . . Phùng ỷ sức nên vương tội lỗi

                   Còn mình CA khó nỗi lập thành

                             Hàng Long phải chịu giáng sanh

          Hiệp thân với Được ngày lành tháng hai.

                   Đặng giúp việc đủ hai Chưởng quản…  [ĐCL.33/ ]

 

            - Ngày 12 tháng 10 Đinh Sửu 1937, Ông Sáu Phùng thoái vị Chưởng quản HTĐ về Long Xuyên hưởng nhàn. Trong buổi tiển Ông Sáu ngày 28-11 âl 1937, tại nhà Ông Giáo sư CÒN, trong Thánh địa Tòa thánh, Ông Giáo sư ĐƯỢC có hỏi Ông Sáu : "Đại Đức về Long Xuyên rồi mối điển vô vi trao lại cho ai ?". Ông Sáu đáp ngay : "Giao cho Chú đó".


          Cứ nghĩ đó là câu hỏi đáp bình thường, chứ mấy ai ngờ đó là Thiên ý định, cơ vận chuyển xây, đó là lời ấp tổn: Mối điển vô vi được trao – lãnh mầu nhiệm giữa Cựu và Tân Chưởng quản Hiệp Thiên Đài  [ĐCL.32/6]

 

                        ". . . Cho Phật tổ Già Lam thâu điển

                   Dụng Hàng Long Đạo chuyển Tam kỳ

                             Lập thành Chơn lý vô vi

          ĐƯỢC ra gánh vác cứu nguy độ đời."   [ĐCL.50/95]

 

            Nền Đạo bấy giờ xáo trộn, nhơn tâm bất nhất, lại thêm một ông Giáo sư tiếp điển Đức Chí Tôn nữa, nên ai cũng nghi ngờ.

 

          - Ngày 22 tháng 6 Đinh Sửu 1937, tại nhà riêng, Ông Giáo Sư Được tiếp điển bài đầu tiên là bài văn xuôi (Thánh giáo 1), sau đó Ông tiếp điển thêm những bài văn xuôi lẫn văn vần nhưng khi đưa ra thì đều bị chê bai là "thơ chàng Ngáo"; Chính Đức Bữu An Thiên cũng không tin.

 

          Đến ngày 20 tháng 12 Đinh Sửu 1937, khi lập danh sách Khóm Đạo đi điếu tang bà Phổ Đà, thay vì ghi Họ Tên, số tiền nhưng khi coi lại là bài "Kính mừng Viện trưởng  Phổ Đà". Ông bỏ đi, viết lại danh sách nhưng vài lần đều như vậy. Đó là bài văn vần tiếp điển đầu tiên thời kỳ Tam tiểu (Mậu Dần – Đinh Hợi 1938 – 1947). Ông tiếp điển nhiều bài nữa nhưng không dám gởi về Tòa Thánh.

 

          - Ngày 12 tháng Giêng Mậu Dần 1938, sau mấy tháng tiếp điển, sau nhiều lần bị Đức Chí Tôn quở trách, Ông mới gởi 6 xấp Thánh giáo về cho Đức Bữu An Thiên [ĐCL.32/ ]

 

            Bà Phổ Đà giáng bút nhiều bài khuyên Đức Bửu An Thiên

 

          - Ngày 22 tháng 2 Mậu Dần (1938), Thân phụ Đức BAT giáng bút (ĐCL.32 trang 115). Nhận được bài nầy Đức BAT mới thật tin. Từ đó bổn Đạo mới thật tin : Ông Giáo sư ĐƯỢC tiếp điển vô vi, viết ra kinh sách là thật.

 

          - Ngày 23 tháng 2 Mậu Dần (1938) : Ông mặc đồ Ngọc  Giáo sư, bái mạng và gắn thẻ Hàng Long tại Vô vi cảnh, chỉ có Đức Bửu An Thiên chứng.

 

          - Ngày 14 tháng 4 Mậu Dần (1938) : Bái mạng Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài tại Tòa Thánh; Thánh danh NGỌC-CHƠN-LONG.

 

          - Ngày 14 tháng 5 Mậu Dần (1938) : Lãnh nhiệm vụ Tam Tôn, Chủ Tam Hồn – giữ thẻ Chủ Tam Hồn –


          Trong 12 năm, Đức Tam Tôn đã tiếp điển trên dưới  3.000 bài kinh, gồm các dạng văn xuôi, văn vần vào bất cứ giờ giấc nào tại Vô vi cảnh và tại Tòa thánh.

 

          Ông còn đi giảng Đạo tràng khắp các nơi, việc gia đình, vợ con, do bà tự lo liệu.

 

         Sức khõe của Ông ngày một giãm, điển quang cũng giãm lần. Đến ngày 10 tháng 10 Mậu Tý (1948) thì dứt với bài cuối cùng "Thương trẻ dại công tu chưa mấy"  [ĐCL.48/34]

 

          Lễ Tu My 26-12-1948, ở Vô vi cảnh, Ông không ngồi dậy nỗi nữa. Ông nói với mọi người : " Tôi còn thiếu tám ngày công quả". Ông bảo Đồng nhi 9 giờ đọc bài "Luân hồi[TĐCT.1 trang 135]; Ba giờ đọc bài "Cửa Chơn lý khóa chìa vừa hợp" [TĐCT.1/88]cho ông nghe hàng ngày.

 

          - Ngày 1 tháng 12 Mậu Tý (1948), Ông nằm trên ghế bố, kêu Ông Tứ Bữu NGÔ (ở Long Vĩnh Ngãi – Long An) lại, rồi đọc 4 câu lời Đức Chí Tôn dạy năm 1926:

 

                   "Đã để vào Tòa một sắc hoa

                   Từ đây Đàn nội tỷ như nhà

                   Trung thành một dạ thờ Cao sắc

                   Sống có Ta, thác cũng có Ta.   [TNHT.2/110]

 

          Rồi sau đó không nói gì nữa.

          Đến 1 giờ chiều ngày 4 tháng 12 Mậu Tý (2-1-1949) thì qui vị, hưỡng dương 52 tuổi – đúng như lời nói trong ngày Lễ Tu My:  "thiếu 8 ngày công quả".

 

          Đức Chí Tôn đã dạy :

          "Thương Hàng Long chịu khổ tâm

          Kề vai gánh vác mười năm trọn bề

 

 

Các tin liên quan khác