Lịch dương

15
Lịch âm

5
NHỮNG SỰ VIỆC LIÊN QUAN ĐẾN ĐỨC TAM TÔN :
 

1.- Nhờ đâu mà bổn Đạo tin ông tiếp điển thật ? :


Ngày 22 tháng 6 năm Đinh Sửu 1937, Ông tiếp điển bài Thánh giáo 1, rồi nhiều bài nữa nhưng không dám gởi về Tòa thánh.


Ngày 12-1-âl (1938), sau mấy tháng tiếp điển, sau nhiều lần bị Thầy quở trách, Ông mới gởi 6 xấp Thánh giáo về Tòa thánh nhưng cũng ít ai tin [ĐCL.32].


Sau đó, Bà Phổ Đà giáng bút nhiều bài khuyên Đức Bửu An Thiên; Và ngày 22-2- âl 1938, 2 giờ chiều, Thân phụ Đức Bửu An Thiên (Vương Đàn Lão Sư) giáng bút một bài khuyên Đức Bửu An Thiên [ĐCL.32/115]. 


Tiếp được bài nầy, Đức Bửu An Thiên nới thật tin. Hôm sau Ông đến Vô vi cảnh, lạy Thầy, sám hối, rồi cùng Ông Giáo sư Được may thẻ Hàng Long. Đến 2 giờ chiều, Ông Giáo sư Ngọc ĐƯỢC Thanh, mặc Thiên phục Giáo sư, bái mạng thẻ Hàng Long ở Vô vi cảnh, chỉ có Đức Bửu An Thiên chứng. Từ đó bổn Đạo mới thật tin là Ông tiếp điển thật.


2.- Dấu hiệu biết sắp tiếp điển :


Ở nhà hoặc ở Tòa thánh, khi thấy Ông đang làm việc gì, vội bỏ đi rửa tay, rửa mặt, đi đến bàn tiếp điển, khoác áo rộng vào ngồi viết thì biết ông đang tiếp điển, nên giữ yên lặng đến khi Ông viết xong.


3.- Tiếp điển là gì ? :


Ông kể : "Khi đang làm việc, nghe tiếng kêu lên tiếp điển (Người cạnh bên không nghe) bên tai, Ông lên bàn viết thì có tiếng người vô hình đọc bên tai, Ông viết theo thật nhanh. Sau đó, Ông Tứ Bửu NGÔ chép lại rõ ràng rồi đưa về Đức Bửu An Thiên, để in ra dạy đạo hoặc đưa cho người nào mà Thầy dạy. Ông tiếp điển bất kể giờ giấc nào; Các bài kinh đều có ghi ngày giờ.


4.- Ai đem các bài Thánh ngôn, Thánh giáo đi ? :


Khi Đức Tam Tôn tiếp điển xong bài nào, Thầy dạy giao cho ai thì Ông giao cho người đó. Còn bài nào Thầy bảo giao Đức Bửu An Thiên, thì Ông sai con, sang Xã Thân-Cữu-Nghĩa gọi Ông Sáu (Thân phụ của Nguyễn văn Đôi – Bắc Thiên Sư – hiện giờ), cách nhà độ 1 Km đến nhận bài, mướn xe đạp (1 giờ giá 1 cắc), đem về Tòa thánh giao Đức Bửu An Thiên.


5.- Nhà nghèo tiền đâu đi giảng Đạo các nơi ? :


Ông giảng Đạo tràng, gần thì đi bộ, xa thì đi xe ngựa, xe lửa.

Cuộc sống gia đình khó khăn, chật vật. Căn nhà lá trống hoác, cất trên đất địa chủ, hàng năm phải đóng tô. Sau đó thì Ông Bà ở phía sau tầng trệt của Vô vi cảnh.

Ở nhà, Ông nhổ bàng, Bà đương đệm, rồi chặt năng, Bà nấu khoai bán. Sau đó thì làm nghề trút giá, làm đậu hủ bán ở chợ Bến tranh. Giá thì gánh nước tưới; Đậu hủ thì xay bằng cối đá, giàng xay, nấu bằng cây năng khô, lá chuối khô, rất cực; lo nuôi hai con. Về sau Ông Bà lại nuôi thêm hai người cháu mồ côi, nên cuộc sống thật khó khăn.

Ông lo việc Đạo, Bà lại càng cực. Nhiều lần Bà nói Ông xin Thầy giao việc tiếp điển cho người khác. Người con gái thứ hai của Ông có giáng bút :


"… Trước sau em dại mơ màng

Cha lo việc Đạo gia đàng vắng tanh . . ."

 

Đức Bửu An Thiên giúp đở Ông tiền bạc những khi đi giảng Đạo tràng; Cũng có nơi thuê xe ngựa đưa Ông về. Nhờ đó mà Ông làm tròn phận sự Chưởng Quản Hiệp Thiên Đài trong 10 năm.


Các tin liên quan khác